Cáp dây 40-conductor được định rõ để mang những tín hiệu giữa các mạch tiếp hợp bus và ổ đĩa ( bộ điều khiển). Để làm tăng tính toán vẹn tín hiệu và loại bỏ các sự cố định thời gian điện thế và nhiễu, cáp này không nên dài hơn 18’’ (0.46 mét), mặc dù việc kiểm tra thể hiện các cáp 80-conductor có thể được dùng tin cậy lên tới độ dài 27’’ (0.69 mét).
Nhận xét rằng các ổ đĩa ATA hỗ trợ các chế độ truyền tốc độ cao hơn, như là PIO Mode 4 hay bất kỳ chế độ Ultra-DMA (UDMA) nào, đặc biệt có thể chịu đựng những sự cố. Nếu cáp quá dài, sự sai lạc dữ liệu và những lỗi khác làm bạn bực mình. Điều này được thể hiện trong những sự số đọc từ ổ đĩa và ghi vào ổ đĩa. Thêm nữa, bất kỳ ổ đĩa dùng UDMA Mode 5 (tốc độ truyền 66MBps). Mode 6 (tốc độ truyền 100MBps) hay Mode 7 (tốc độ truyền 133MBps) phải dùng cáp 80-conductor đặc biệt chất lượng cao hơn. Tôi cũng đề nghị loại cáp này nếu ổ đĩa của bạn đang chạy ở UDMA Mode 2 (33MBps) hay thấp hơn do nó không thể làm hại và có thể chỉ giúp cải thiện. Tôi luôn luôn giữ cáp ATA 80-conductor chất lượng cao trong bộ đồ nghề để kiểm tra các ổ đĩa mà tôi nghi ngờ có sự cố về tình trạng toàn vẹn cáp hay độ dài cáp. Hình 7.5 thể hiện sơ đồ chân và kích thước cáp ATA tiêu biểu.
Lưu ý
Phần lớn cáp 40-conductor không làm mã màu sắc cho các đầu nối, trong khi tất cả cáp 80-conductor đều có.
Hai dạng khác biệt cơ bản của cáp Parallel ATA được sử dụng ngày nay một với 40 dây dẫn với cái kia 80 dây dẫn thể hiện trong hình 7.6. Cả hai đều sử dụng cả đầu nối 40-pin, dây kim loại thêm vào trong phiên bản 80-conductor đơn thuần là được nối tiếp đất. Các dây dẫn thêm vào được thiết kế để làm giảm nhiễu (Noise and interference) và được yêu cầu khi thiết lập giao diện chạy ở 66MBps (ATA/66) hay nhanh hơn. Ổ đĩa và thiết bị tiếp hợp chủ được thiết kế để vô hiệu các chế độ ATA/66, ATA/100 hay ATA/133 tốc độ cao hơn nếu cáp 80-conductor không được phát hiện. Trong những trường hợp này, bạn phải xem cảnh báo khi khởi động máy tính nếu có ổ đĩa ATA/66 hay nhanh hơn được nối kết cáp 40-conductor. Cáp 80-conductor cũng được dùng ở những tốc độ thấp hơn; mặc dầu điều này không cần thiết, nó cải thiện tính toàn vẹn tín hiệu. Do đó, nó là phiên bản được đề nghị không có vấn đề với ổ đĩa bạn đang dùng.
Một lần một sinh viên hỏi tôi cách nào để biết cáp 80-conductor và cáp 40-conductor. Tôi thầm nghĩ. “Có phải đây là câu hỏi bẫy?”. Câu trả lời đơn giản là đếm những lằn gợn (các dây dẫn) trong sợi cáp. Nếu bạn chỉ đếm 40, nó phải là cáp 40-conductor, nêu bạn đếm đến 80, thế đấy…cùng kết luận! Nếu bạn quan sát chúng sát bên nhau, sự khác biệt rõ ràng: cáp 80-conductor có một vẻ rõ ràng ít gân hơn, mượt hơn cáp 40-conductor.
Nhận xét khóa chốt trên cáp 80-conductor được thiết kế để ngăn chặn lắp đặt ngược, nhưng cũng nhận xét rằng cáp 40 –conductor được dựng kém cỏi thể hiện trong ví dụ này thiếu khóa chốt. Phần lớn các cáp 40-conductor tốt bao gồm khóa chốt; tuy nhiên, do nó là tùy chọn, nhiều phiên bản được làm rẻ hơn không bao gồm nó. Khóa chốt được làm bắt buộc cho tất cả cáp 80-conductor như thành phần của tiêu chuẩn.
Những cáp dài hơn hay cáp tròn
Tiêu chuẩn Parallel ATA chính thức hạn chế độ dài cáp đến 18’’ (0.46 mét); tuy nhiên, nhiều trong số những cáp này được bán thì dài hơn, thậm chí lên tới 36’’ (0.91 mét) hay nhiều hơn. Nhiều người trong số những cáp này được bán thì dài hơn, thậm chí lên tới 36’ (0.91 mét) hay nhiều hơn. Nhiều người đọc viết cho tôi thắc mắc về độ dài, hỏi “Tại sao mọi người bán cáp dài hơn 18’’ nếu tiêu chuẩn không cho phép?’ Vâng, chỉ bởi vì cái được bán thì không có nghĩa là nó phù hợp với các tiêu chuẩn và vận hành chính xác! Tôi thấy những món thiết kế sai, được sản xuất kém cỏi và không thích hợp luôn luôn được bán. Cũng vậy, nhiều người dùng những cáp dài hơn và dường như hệ thống của họ hoạt động tố, nhưng tôi cũng được báo cáo bằng tài liệu vô số trường hợp dùng cáp dài hơn gây ra những sự cố, nên tôi quyết định kháp phá và kiểm tra vấn đề này khá thấu đáo.
Cái mà tôi tìm hiểu ra là cáp 80-conductor tính tin cậy lên tới độ dài 27’ (0.69 mét), nhưng cáp 40-conductor giữ giới hạn 18’ như tiêu chuẩn cho biết. Thực tế, một sự thử nghiệm để thay đổi tiêu chuẩn Parallel ATA cho phép cáp 27’’. Nếu bạn đọc www.t13.org/Documnets/UploadedDocuments/technical/e00151r0.pdf, bạn sẽ tìm được dữ liệu từ một đề xuất thể hiện “những sự khác biệt không đáng kể trong Ultra DMA Mode 5 tính vẹn toàn tín hiệu giữa cáp 27’’, 80-conductor cáp và cáp 18’’, 80-conductor.” Thiết kế cáp được mở rộng này thực sự được đề nghị vào tháng 10 năm 2000, nhưng nó không bao giờ được đưa vào tiêu chuẩn. Mặc dầu nó không bao giờ được đề nghị một cách chính thức, tôi lấy thông tin được giới thiệu trong đề xuất này như bằng chứng thuyết phục cho phép sử dụng những cáp 80-conductor độ dài 27’’ mà không có những sự cố’’.
Đối với điều này, nói chung tôi không khuyến kích cáp ATA dạng tròn. Thiết kế cáp tròn không được phê duyệt trong tiêu chuẩn ATA và có một số bằng chúng cho thấy chúng gây ra sự cố với sự nhiễu chéo (crosstalk và Noise). Thiết kế cáp 80-conductor là một dây kim loại tiếp đất được đặt giữa mỗi dây kim loại dẫn dữ liệu trong dây và làm tròn cáp gây ra một số đường dẫn dữ liệu chạy song song hay gần kề nhau một cách ngẫu nhiên, bằng cách ấy gây ra sự nhiễu chéo và dẫn đến những lỗi tín hiệu.
Tất nhiên, nhiều người đang dùng tốt những cáp tròn, nhưng với kiến thức công nghệ điện cũng như tiêu chuẩn ATA của tôi luôn luôn buộc tôi không hài lòng với sự sử dụng của họ.
Những tín hiệu Parallel ATA
Phần này mô tả một số tín hiệu Parallel ATA quan trọng nhất phải làm với cấu hình và lắp đặt ổ đĩa theo chi tiết. Đây là thông tin có thể giúp bạn hiểu, cho ví dụ tính năng lựa chọn cáp vận hành như thế nào.
Chân 20 được dùng như chân khóa cho định hướng cáp và không được kết nối vào giao diện. Chân này sẽ mất đi trong bất kỳ đầu nối ATA và cáp có lỗ chân 20 trên dầu nối được đóng lại để ngăn chặn cắm cáp ngược.
Chân 39 mang tín hiệu DASP (DASP:drive active/slave present) là tín hiệu thời gian được ghép kênh. Suốt kỳ khởi tạo bật nguồn, tín hiệu này cho biết liệu ổ đĩa phụ thuộc có hiện diện trên giao diện. Sau đó, mỗi ổ đĩa xác nhận tín hiệu này để cho biết nó hoạt động. Các ổ đĩa cũ hơn không ghép những chức năng này và đòi hỏi những thiết lập cầu nhảy đặc biệt để vận hành hơn không ghép những chức năng này và đòi hỏi những thiết lập cầu nhảy đặc biệt để vận hành với các ổ đĩa khác. Tiêu chuẩn hóa chức năng này để cho phép cài đặt hai ổ đĩa tương thích là một trong những tính năng của tiêu chuẩn. Đây là lý do một số ổ đĩa yêu cầu nhảy phụ (SP: slave present) trong khi những ổ đĩa khác không cần.
Pin 28 mang tín hiệu lựa chọn cáp (CSEL: cáp select). Ở một số ổ đĩa cũ hơn, chân này cũng mang tín hiệu đồng bộ hóa trụ quay (SPSYNC: spindly synchronization), nhưng tính năng này không còn thấy trong những ổ đĩa mới hơn. Chức năng CSEL được dùng khá rộng rãi và được thiết để kiểm soát thứ tự ổ đĩa mới hơn. Chức năng CSEL được dùng khá rộng rãi và được thiết kế để kiểm soát thứ tự ổ đĩa chính (drive 0) hay phụ (drive 1) không đò hỏi những thiết lập cầu nhảy trên các ổ đĩa. Nếu ổ đĩa thấy CSEL như được tiếp đất, ổ đĩa là chính (master); nếu CSEL mở, ổ đĩa là phụ (slave).
Bạn có thể lắp đặt cáp đặc biệt để nối CSEL có chọn lọc. Việc lắp đặt này thường được hoàn thành thông qua một cáp không có chân 28 ở đầu nối giữa, nhưng có trong các đầu nối ở mỗi đầu. Trong cách sắp xếp này, với một đầu nối cắm vào bo mạch chủ và hai ổ đĩa cà theo sự chọn lựa cáp, ổ đĩa cắm vào một đầu nối giữa sẽ được cấu hình như ổ đĩa phụ (slave). Lưu ý rằng mặc dầu điều này là sự sắp xếp phổ biến nhất, song cũng có thể làm các cáp ở đầu nối giữa là thành chính (và tại đầu là phụ), hay thậm chí dùng một sự sắp xếp các dạng Y, với đầu nối bus ATA ở giữa và mỗi ổ đĩa ở các đầu đối diện của sợi cáp. Một chân Y có đường CSEL được kết nối đến cùng, cho biết ổ đĩa chính; chân kia có đường CSEL mở (dây dẫn bị ngắt hay bị tháo gỡ), làm ổ đĩa phụ.
Theo "Nâng cấp và sửa chữa máy tính" Scott Mueller